Hiện nay, số lượng người nước ngoài học tiếng Việt ngày một nhiều và phần lớn các sinh viên khi học tiếng Việt đều được học, được giải thích chủ yếu thông qua một ngôn ngữ trung gian là tiếng Anh. Vì vậy, nhiều sinh viên nước ngoài khi nói tiếng Việt không tránh khỏi bị ảnh hưởng về cấu trúc hoặc trật tự từ của tiếng Anh, đặc biệt đối với những câu hỏi dùng những đại từ hoặc tính từ nghi vấn như: ai, nào, thế nào, (cái) gì, bao lâu, bao nhiêu, (ở) đâu, khi nào,… Chúng tôi tạm gọi những từ này là từ để hỏi cho thông tin mới (TĐH).

 Cao Thị Thu

 

1. Đặt vấn đề

 

Hiện nay, số lượng người nước ngoài học tiếng Việt ngày một nhiều và phần lớn các sinh viên khi học tiếng Việt đều được học, được giải thích chủ yếu thông qua một ngôn ngữ trung gian là tiếng Anh. Vì vậy, nhiều sinh viên nước ngoài khi nói tiếng Việt không tránh khỏi bị ảnh hưởng về cấu trúc hoặc trật tự từ của tiếng Anh, đặc biệt đối với những câu hỏi dùng những đại từ hoặc tính từ nghi vấn như: ai, nào, thế nào, (cái) gì, bao lâu, bao nhiêu, (ở) đâu, khi nào,… Chúng tôi tạm gọi những từ này là từ để hỏi cho thông tin mới (TĐH).

Chẳng hạn, trong quá trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, khi nói chuyện, không ít lần chúng tôi thấy sinh viên đặt các câu hỏi tiếng Việt kiểu như:

(1) Ai anh đi với đến thư viện quốc gia?

(2) Bao lâu anh sống ở Việt Nam?

(3) Ở đâu anh sống bây giờ?

(4) Bao nhiêu con anh có?

(5) Cái gì anh đã mua ở chợ hôm qua?

Những câu hỏi kiểu này có thể nói là "đạt mức độ hiểu được" nhờ suy đoán nhưng người Việt nào cũng có thể nhận thấy là "không bao giờ nói như vậy". Nếu so sánh với những câu hỏi tương tự trong tiếng Anh:

(1) Who did you go with to the National library?

(2) How long have you been to Viet Nam?

(3) Where are you living now?

(4) How many children have you got?

(5) What đi you buy in the market yesterday?

          Rõ ràng sinh viên đã mô phỏng, chuyển di cách đặt câu hỏi trong tiếng Anh sang tiếng Việt khi học, bởi trong tiếng Anh, các TĐH về mặt ngữ pháp phải được đặt ở đầu câu hỏi.

 

2. Cách đặt câu hỏi có từ để hỏi trong tiếng Việt

 

a. Hiện nay, trong các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, người học cũng được dạy cách đặt những câu hỏi có TĐH. Song, các kiểu câu hỏi với các loại TĐH khác nhau lại được sắp xếp phận tán trong những bài khác nhau cho nên việc nhớ hết được trật tự các từ trong mỗi loại câu hỏi đó là rất khó và phải học rất máy móc. Chẳng hạn, trong sách Tiếng Việt thực hành của Nguyễn Việt Hương [3], tác giả đã giải thích về hai TĐH là gì và nào như sau:

1. Gì: Đứng cuối câu hỏi để yêu cầu nhận biết sự vật hoặc lựa chọn một trong số không xác định các sự vật.

Ví dụ:

- Đây là cái gì?

- Em đọc báo gì đấy?

- Anh đang làm gì đấy?

- Anh viết gì?

2. Nào: Đứng cuối câu hỏi để yêu cầu sự lựa chọn trong một một số xác định các sự vật.

Ví dụ:

- Trong hai cái áo này, chị thích cái áo nào?

- Bà là người nước nào?

          Chính vì hiểu cách giải thích này một cách máy móc mà sinh viên cũng có thể đặt câu hỏi:

- Anh mua cho vợ anh ở Singapore gì?

- Anh đã chọn để đi tham gia cuộc thi sinh viên nào?

          Trong khi đó người Việt sẽ hỏi:

- Anh mua gì cho vợ anh ở Singapore?

- Anh đã chọn sinh viên nào đi tham gia cuộc thi?

Cũng do cách giải thích này mà nhiều sinh viên nước ngoài đã không hiểu tại sao mà TĐH trong tiếng Việt thường không có một vị trí cố định trong câu hỏi, thậm chí không biết nên đặt chúng ở đâu cho đúng.

Ví dụ:

- Hôm qua anh đi chơi với ai đến nhà cô Lan?

- Hôm qua anh đi với anh John đến nhà ai?

- Hôm qua ai đi với anh John đến nhà cô Lan?

b. Để khắc phục những lỗi đó,  chúng tôi muốn đề cập đến một cách có thể giúp cho sinh viên nước ngoài vừa có thể đạt câu hỏi với các TĐH một cách linh hoạt, vừa giúp họ có thể hiểu được vì sao vị trí của các TĐH trong câu tiếng Việt thường không cố định.

Chúng ta đều thấy rằng, giữa tiếng Việt và tiếng Anh có một sự giống nhau là nội dung câu trả lời trong cả hai thứ tiếng đều bao gồm hai thông tin. Đó là thông tin cũ và thông tin mới. Thông tin cũ là thông tin mà người hỏi đã biết. Còn thông tin mới là thông tin mà người hỏi cần biết. Chính vì thế, trong phần trả lời, thông tin cũ có thể lược bớt, thậm chí nó có thể vắng mặt, nhưng thông tin mới thì không thể vắng mặt. Chẳng hạn:

- Tuần trước anh đi đâu?

- (Tuần trước tôi đi) Sài Gòn.

Và câu tiếng Anh tương đương là:

- Where did you go last week?

- (I went to) Sai Gon (last week)

 Trong cả câu trả lời tiếng Anh lẫn câu trả lời tiếng Việt, Tuần trước là thông tin đã có trước. Chính vì thế, thông tin này có thể vắng mặt trong câu trả lời. Thậm chí trong hai câu trên, các phần được đặt trong ngoặc đơn (Tuần trước tôi đi; I went to, last week) đều có thể lược bỏ được vì nó là thông tin cũ. Thông tin Sài Gònkhông thể lược bỏ vì nó là thông tin mới, đáp trúng đích mà người đặt câu hỏi muốn biết. Về vấn đề này xin xem Nguyễn Thị Ảnh [2,36].

Sự khác nhau giữa hai thứ tiếng trên là ở chỗ: Tiếng Việt không dùng hình thức thay đổi trật tự từ và cũng không dùng trợ động từ để cấu tạo câu hỏi như trong tiếng Anh. Các TĐH không bị tách khỏi cấu trúc của ngữ pháp thường nhật để đặt ở đầu câu. Hãy xem các ví dụ dưới đây:

(1) Who did you meet at the restaurant yesterday?

I met Anna at the restaurant yesterday.

(2) Which house do you prefer?

- I prefer the fist one.

(3) Where do you live?

- Ilive in the Daewoo hotel.

Các câu trên được dịch sang tiếng Việt như sau:

(1') Hôm qua anh gặp ai ở nhà hàng?

- Hôm qua tôi gặp Anna ở nhà hàng.

(2') Anh thích ngôi nhà nào hơn?

- Tôi thích ngôi nhà đầu tiên hơn.

(3') Anh sống ở đâu?

- Tôi sống ở khách sạn Daewoo.

 Nhìn vào các phần in đứng trong các ví dụ 1,2,3 và các phần in đứng trong các ví dụ 1', 2', 3', chúng ta thấy được sự khác nhau về vị trí giữa TĐH và thông tin mới trong tiếng Việt và trong tiếng Anh. Trong các ví dụ tiếng Anh (ví dụ 1,2,3), các TĐH luôn đứng đầu câu hỏi, nhưng các thông tin cần biết lại được đặt ở vị trí cuối câu trả lời. Như vậy, vị trí của TĐH và vị trí của thông tin cần biết trong tiếng Anh là không tương ứng nhau. Các ví dụ tiếng Việt thì hoàn toàn khác (ví dụ 1', 2', 3'). Ở đây, TĐH có thể nằm ở giữa, ở cuối hay ở đầu câu hỏi và vị trí của thông tin cần biết cũng nằm ở vị trí tương ứng với TĐH.

c. Trên cơ sở nhận xét trên, để giúp cho sinh viên nước ngoài có thể đặt đúng câu hỏi tiếng Việt, chúng tôi tạm đưa ra các bước như sau:

 

Bước 1: Xác định vị trí của thông tin cần biết nếu đặt trong ngữ cảnh của một câu tường thuật.

 

- Giả sử cho một câu tường thuật:

Anh John đã gặp chị Hoa ở Hà Nội 5 năm trước

     (1)                      (2)           (3)            (4)

Ở đây có 4 thông tin ở 4 vị trí khác nhau trong một câu thông báo bình thường.

 

Bước 2: Thay thế từ để hỏi vào vị trí của thông tin cần biết.

 

          Tùy thuộc vào ở người hỏi thông tin gì đã có và thông tin gì cần biết mà chúng ta thay thế những đại từ nghi vấn thích hợp với loại thông tin cần biết vào đúng vị trí của nó.

Thông tin (1):

- Ai đã gặp chị Hoa ở Hà Nội 5 năm trước?

Thông tin (2):

- Anh John đã gặp ai ở Hà Nội 5 năm trước?

Thông tin (3):

- Anh John đã gặp chị Hoa ở đâu 5 năm trước?

Thông tin (4):

- Anh John đã gặp chị Hoa ở Hà Nội khi nào?

 

Bước 3: Thay đổi đại từ nhân xứng thích hợp trong một số câu hỏi.

 

(Tôi đã ở nhà bạn chúng tôi hôm qua.)

Anh ở nhà bạn ai hôm qua?

- Tôi ở nhà bạn chúng tôi  hôm qua.

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy có một sự tương ứng lẫn nhau về mặt vị trí giữa thông tin cần biết và các TĐH. Điều này càng thể hiện rõ hơn khi chúng ta xét đến các câu hỏi với đại từ nghi vấn dùng để hỏi về thời gian như: khi nào, bao giờ và trật tự từ cho các câu trả lời của chúng.

Chúng ta biết rằng, các đại từ nghi vấn này thường được đặt ở đầu câu hỏi để hỏi về một hành động xảy ra trong tương lai và đặt ở cuối câu hỏi để hỏi về một hành động xảy ra trong quá khứ. Bởi thế, câu trả lời cho các câu hỏi loại này sẽ đúng hoặc trở nên tự nhiên hơn trong hội thoại. Nếu chúng ta dạy cho sinh viên nước ngoài tuân thủ nguyên tắc tương ứng về vị trí giữa thông tin cần biết và TĐH. Ví dụ:

Chị ấy đi Hải Phòng bao giờ?

- (chị ấy đi Hải Phòng) hôm qua.

Bao giờ, em sẽ về nước?

Năm sau (em sẽ về nước).

Tuy nhiên, ngữ pháp tiếng Việt nói chung không có sự thay đổi trật tự từ khi cấu tạo câu hỏi, nhưng đôi khi sự thay đổi trật tự từ trong câu hỏi cũng được sử dụng một cách linh hoạt do mục đích ngữ dụng, chẳng hạn như:

a) Anh không đến đây bao lâu rồi?

b) Bao lâu rồi anh không đến đây?

Cả hai câu trên, người hỏi đều muốn biết về khoảng thời gian của hành động "không đến". Nhưng đối với người Việt, hai câu này lại có mục đích ngữ dụng khác nhau. Câu a0 TĐH đặt ở cuối câu hỏi, còn hành động được đặt ở đầu câu hỏi, người hỏi muốn nhấn mạnh vào hành động "không đến". Ở câu b), TĐH đặt ở đầu câu hỏi, người hỏi muốn nhấn mạnh vào khoảng thời gian của hành động "không đến".

 

3. Kết luận

 

Chúng tôi nghĩ rằng, dạy tiếng Việt cho người nước ngoài không chỉ đơn thuần là việc dạy nghĩa câu chữ, quy tắc ngữ pháp mà còn cần dạy cho họ biết cả tư duy ngôn ngữ của người Việt. Có thể hiểu rõ điều này thì mới có thể đạt được hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy và học tập tiếng Việt như một ngoại ngữ. Tất nhiên, mỗi giáo viên có thể có một cách dạy và cách lý giải khác nhau. Những điều trình bày ở trên cũng chỉ là một cách đã được chính người viết áp dụng tỏ ra rất có hiệu quả trong quá trình tham gia dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.

 

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn anh Quế, Tiếng việt cho người nước ngoài, Nxb GD, H, 1996.

2. Nguyễn Thị Ảnh, Sự thể hiện của đề trong câu tiếng Việt và câu tiếng Anh, T/c Ngôn ngữ, số 1, 2001, tr.36.

3. Nguyễn Việt Hương, Thực hành tiếng Việt, Nxb GD, H, 1996.

4. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2000.

5. Vũ Văn Thi, Tiếng Việt cơ sở, Nxb KHXH, H, 1996.

 

 

Nguồn: Tạp chí Ngôn ngữ số 8/2001

Bạn hãy đăng nhập vào Facebook để thực hiện bình luận và chia sẻ bản tin này với bạn bè.

arrow