Giáo sư Hoàng Tuệ là một trong những nhà Ngôn ngữ học "hiểu biết tinh tế về tiếng Việt, đặc biệt quan tâm đến những vấn đề ngữ pháp, ngữ âm chuẩn của tiếng Việt; xây dựng bộ môn xã hội - ngôn ngữ học ở nước ta; … góp phần quyết định xây dựng nền móng khoa học cho việc nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số.

  PGS.TS Bùi Khánh Thế

 

1. Giáo sư Hoàng Tuệ là một trong những nhà Ngôn ngữ học "hiểu biết tinh tế về tiếng Việt, đặc biệt quan tâm đến những vấn đề ngữ pháp, ngữ âm chuẩn của tiếng Việt; xây dựng bộ môn xã hội - ngôn ngữ học ở nước ta; … góp phần quyết định xây dựng nền móng khoa học cho việc nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Trong lĩnh vực nào, ông cũng có những kiến giải của mình..." (Hoàng Phê). Thuộc một trong những lĩnh vực đó là hoạt động chức năng của tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai. Tôi còn nhớ năm 1995, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á lúc bấy giờ thuộc Trường đại học tổng hợp TP. Hồ Chí Minh tổ chức cuộc hội thảo Tiếng Việt cho người nước ngoài. Đây là một sinh hoạt khoa học lần đầu tiên tổ chức ở nước ta, quy tụ đến 50 nhà sư phạm quan tâm đến việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Và số những người tham gia trực tiếp hoặc gửi bài trực tiếp đến tham gia hội thảo không chỉ có các giảng viên đại học trong cả nước, mà còn có những giáo sư người Việt sống và làm việc trong lĩnh vực này ở nước ngoài và cả một số giảng viên ngoại quốc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt ở các Trung tâm Việt Nam học ở Leiden (Hà Lan), Úc, Nhật, Hàn Quốc. Hồi ấy với tư cách là Viện trưởng Viện ngôn ngữ học, GS Hoàng Tuệ đặc biệt quan tâm đến sinh hoạt khoa học này. Tôi còn nhớ kèm theo bài viết gửi cho Ban tổ chức, căn dặn một số điều cần lưu ý, trong đó bày tỏ mong muốn kiểu hội thảo này có thể trở thành loại hình sinh hoạt khoa học có tính truyền thống để các nhà sư phạm, giảng viên tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai, các nhà Ngôn ngữ học cùng hoạt động trong một lĩnh vực nghề nghiệp có cơ hội gặp gỡ, trao đổi với nhau những vấn đề cùng quan tâm chung. Tuy cuối cùng không thu xếp thời gian và công việc để đến tham dự hội thảo, nhưng GS đã cử cán bộ của Viện vào góp phần tổ chức Hội thảo 1 và bài viết của GS đã đặt ra cho những người tham gia Hội thảo một số vấn đề lý luận quan trọng trong việc dạy - học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai2.

 

2. Năm 1997, như để thực hiện điều gợi ý của GS Hoàng Tuệ, cuộc Hội thảo Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được trường DDHKHXH&NV và Viện Ngôn ngữ học tổ chức tại Hà Nội. Bài viết của GS Hoàng Tuệ giới thiệu tại cuộc Hội thảo đã gợi mở cho những người tham gia một cái nhìn rộng hơn, bao quát hơn về lĩnh vực này. Điều đó được đặt ra một cách rõ ràng ngay từ tên gọi của bài viết Tiếng Việt cho người không phải bản ngữ3. Cả hai bài viết góp cho hai cuộc Hội thảo đều hết sức súc tích và đều nêu lên những ý tưởng có tầm lý thuyết. Bài Vấn đề phương ngữ trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (1995) đặt ra yêu cầu giúp cho người nước ngoài là "những nhà doanh nghiệp, nhà ngoại giao, và cả nhà khoa học, muốn nói được tiếng Việt ở mức tương đối thạo" khi "họ gặp phải những khác biệt phương ngữ trong tiếng Việt ngôn ngữ nói". Bàn về các mối tương quan này trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. GS Hoàng Tuệ triển khai vấn đề trên hai bình diện bao quát hơn: bình diện phương ngữ - chuẩn và bình diện phương ngữ - "tâm thức, tâm giác" (của người bản ngữ - tôi giải thích rõ thêm - B.K.T) về giá trị riêng của phương ngữ của mình". Những phương diện này GS Hoàng Tuệ từng đặt ra dưới các góc nhìn khác nhau, ở những thời kỳ khác nhau, trong nhiều bài viết được tập hợp ở phòng 2 - Những vấn đề xã hội - ngôn ngữ học - Tuyển tập ngôn ngữ học (2001)4 và trong chuyên luận Vấn đề chuẩn ngôn ngữ qua lịch sử ngôn ngữ học (Nxb GD), 1993)5. Các bình diện tương liên nêu trên, theo GS, bộc lộ rõ khi người nước ngoài học tiếng Việt tiếp cận với "thực tiễn nghe. Trong thực tiễn này, người nước ngoài gặp sự đa dạng phương ngữ ở Việt Nam, kể cả ở cô, thầy dạy cho họ học tiếng Việt …". Và GS đề nghị cách khắc phục rất thiết thực. Ông cho rằng "sẽ là thiếu sót nếu các thầy cô không nhắc nhở họ (tôi gạch dưới B.K.T) có những người Việt Nam không phát âm đủ 6 thanh, có những người Việt Nam viết trời nhưng nói giời v.v.". Trong tương quan phương ngữ và chuẩn. Ông nhấn mạnh "cần chú ý tới những phương ngữ đô thị. Tiếng Hà Nội, tiếng Sài Gòn, tiếng Huế… là những phương ngữ tiêu biểu về địa lý , và có cương vị xã hội quan trọng.

Trong bài viết năm 1995, GS cũng đã nêu lên một số ý tưởng sẽ được triển khai ở bài viết năm 1997. Ông cho rằng: 1) "Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và dạy tiếng Việt cho kiều bào cũng có những vấn đề chung đáng chú ý, vấn đề chung quan trọng là vấn đề song ngữ ở các mặt của nó". 2) Có "những khác biệt giữa tiếng Việt - ngôn ngữ viết với tiếng Việt - ngôn ngữ nói … Bắt đầu với người nước ngoài bằng tiếng Việt - ngôn ngữ viết, chuẩn hóa, thống nhất hóa … qua các văn bản khoa học, chính trị, báo chí và cả văn bản nghệ thuật … Sự bắt đầu như vậy là hợp lý. Như vậy, người học có thể tiếp nhận được những tri thức cơ bản làm cơ sở cho thực tiễn cơ bản về nói và cả viết, đọc".

Bài viết Tiếng Việt cho người không phải bản ngữ (1997) trả lời cho câu hỏi: Ai là người cần học tiếng Việt không phải bản ngữ? GS Hoàng Tuệ xác định rõ ba đối tượng: người nước ngoài, người Việt hải ngoại và người Việt Nam thuộc các dân tộc thiểu số. Và mỗi loại đối tượng này còn có thể phân ra, theo GS Hoàng Tuệ, thành những nhóm nhỏ. Giáo sư Viết: "Nói tới người muốn học, cần học tiếng Việt mà tiếng này không phải bản ngữ là nói tới một đối tượng bao gồm những loại khác nhau, và tâm lý khác nhau. Về mỗi loại, cần xem xét riêng để thấy chủ trương dạy và học tiếng Việt thế nào cho thích hợp". Để thỏa mãn được các yêu cầu mục đích đa dạng như vậy, Giáo sư đề cập đến "yêu cầu chung về tiếng Việt cơ bản" với bốn điểm cụ thể. Và những yêu cầu chung đó được GS Hoàng Tuệ thể hiện qua giáo trình Ngữ pháp cơ bản tiếng Việt sẽ được giới thiệu sơ lược ở mục 3. Trong phạm vi vấn đề nay, tôi muốn đặc biệt nhắc đến ý tưởng mà tôi nghĩ là rất thỏa đáng và linh hoạt được GS trình bày ở điểm 3: "Một sự vận dụng các quy tắc cú pháp về câu có tính phổ quát trong các ngôn ngữ (Tôi gạch dưới - B.K.T), những quy tắc thường gặp trong các ngữ pháp trường học. Ví dụ, nên dùng cách phân tích câu theo cấu trúc chủ ngữ - vị ngữ (subjet - pre'dicat) hơn là theo cấu trúc đề ngữ - thuyết ngữ (the'me - rhe'me). Tất nhiên có thể vẫn có một sự kết hợp giữa hai cách phân tích đó như đã từng thấy trong các ngữ pháp truyền thống ở trường học. Cái riêng về cú pháp tiếng Việt là các nghi thức, các hình thái, và đặc biệt là các từ loại với hiện tượng chuyển loại, nhất là chuyển loại trong các hư từ". Dĩ nhiên, trên cơ sở phác đồ tổng quát do GS Hoàng Tuệ gợi ra, những nhà Ngôn ngữ học hoạt động trong lĩnh vực tiếng Việt cho người không phải bản ngữ còn có nhiều việc phải làm để cụ thể hóa và hiện thực hóa những ý tưởng lớn cuar GS. Chẳng hạn các vấn đề như: Người dạy luôn luôn thuộc một phương ngữ nhất định nào đó, vậy làm thế nào để đáp ứng được yêu cầu của học viên nếu họ muốn học cách phát âm chuẩn? Và âm chuẩn ấy là hệ thống ngữ âm nào? Cách cung cấp từ ngữ nào là tốt nhất để học viên tránh được khó khăn khi nhận diện (để hiểu nghĩa câu, bài …) và phân biệt từ đơn tiết, từ ghép, ngữ, tức là khả năng họ phân đoạn các đơn vị từ vựng trong câu (thông báo) để có thể hiểu nghĩa chính xác? Sau giai đoạn đầu, có được những hiểu biết cơ bản về cơ cấu tiếng Việt, những giai đoạn cao hơn, người học có những yêu cầu khác nhau cần được cung cấp những tri thức nâng cao nào là cần yếu và theo hệ thống nào là hợp lý? V.v.. Trong ba đối tượng ấy, GS dành sự quan tâm đặc biệt cho đối tượng là "người Việt Nam thuộc các dân tộc thiểu số". Bởi vì đối với họ, tiếng Việt tuy không phải là bản ngữ nhưng lại là ngôn ngữ quốc gia mà thành viên cộng đồng các dân tộc thiểu số là công dân. Tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của người các dân tộc thiểu số có mối quan hệ đặc biệt giữa ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ quốc gia. Ý tưởng này được Giáo sư Hoàng Tuệ nhấn mạnh trong một loạt bài viết về chính sách ngôn ngữ Việt trong những dịp khác và được giới thiệu lại trong tuyển tập của ông.

 

3. Trong lĩnh vực tiếng Việt cho người nước ngoài,  GS Hoàng Tuệ đã để lại dấu ấn không chỉ trên bình diện quan điểm lý thuyết. Là nhà giáo dạy ngữ văn Việt Nam tài hoa và uyên thâm (và tôi may mắn là học trò của thầy từ thời đó) GS Hoàng Tuệ được Bộ Giáo dục phân công đi dạy tiếng Việt ở nước ngoài khoảng đầu những năm 60 Vào thời kỳ sau cuộc kháng chiến lần thứ nhất, khi nước ta mở rộng quan hệ ra thế giới, nhiệm vụ ấy không đơn thuần là công việc chuyên môn, mà còn mang ý nghĩa chính trị - văn hóa quan trọng. Với bề dày kinh nghiệm của một nhà giáo ngữ văn học, trong một thời gian không dài làm việc ở Balan, GS đã kịp thời biên soạn và cho ấn hành một giáo trình tiếng Việt cho các học viên mà bản ngữ của họ nằm trong nhánh Slave, thuộc loại ngôn ngữ biến hình (Inflexional languages) khác với loại hình ngôn ngữ đơn lập của tiếng Việt. Giáo trình này được ấn hành dưới hình thức rone'o cổ điển bằng tiếng Balan, có tên gọi là Elementy Gramatiky Jezyka Wietnamkiego (Ngữ pháp cơ bản tiếng Việt) nên hình như ít được biết đến ở Việt Nam. Tuy chỉ với 160 trang khổ A4, nhưng giáo trình đã giới thiệu đầy đủ không chỉ những kiến thức cơ bản về ngữ âm, về vốn từ, về các kiểu cấu trúc từ, về hoạt động từ trong lời nói và các kiểu loại câu cơ bản của tiếng Việt, mà còn dành khoảng 1/10 nội dung giáo trình để giới thiệu một số từ công cụ, tiểu từ tình thái và các văn bản tiêu biểu cho những loại phong cách phổ biến trong tiếng Việt ở thời điểm ấy. Chẳng hạn đó là tục ngữ (Tay làm hàm nhai, Bảy mươi còn học bảy mươi mốt), dân ca (Ngày ngày em đứng em trông, trông non non ngất, trông sông sông dài, …), văn bản theo phong cách miêu tả (Hoa quả ở Việt Nam), phong cách chính luận (Chúng ta đánh ai?). Văn bản bằng tiếng Việt được đánh số theo từ ngữ (Ví dụ: Không 49 phải 50 chỉ có 51 mùa xuân 52 mới 53 có 54 hoa 55 mùa hạ 56 mới 57 có 58 quả 59). Và kèm theo là hai văn bản dịch sang tiếng Balan, một cung cấp các từ ngữ Balan được đánh số tương ứng với từ ngữ Việt (nie 49 jest 50 tylko 51 … ), và một là văn Balan dịch có tính văn chương (Nie tylko na wiosne sa kwiaty, nie tylko wlecie sa owake). Tôi nghĩ rằng có thể xem đây là một loại sách ngữ pháp giản lược, ứng dụng, điển hình cho quan điểm ngôn ngữ học của GS trong lĩnh vực này, giới thiệu cho một số đối tượng học viên cụ thể học tiếng Việt ở bậc cơ sở.

 

4. Những ý tưởng gợi mở về mặt lý thuyết xung quanh việc dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai và sự thể hiện các ý tưởng ấy bằng một giáo trình thực hành đều tường minh mà lại hàm súc - một đặc điểm chung về phong cách ngôn ngữ của GS Hoàng Tuệ. Đặc điểm ấy làm cho người chỉ mới đọc qua tưởng như đã hiểu rõ, nhưng thực ra vẫn còn những điểm có thể và cần được tiếp tục khai thác sâu thêm. Riêng tôi, với tư cách là người nhiều năm làm việc trong lĩnh vực này cho cả ba đối tượng mà GS gọi là người học tiếng Việt không phải bản ngữ, tôi thấy còn nhiều vấn đề xung quanh đề tài này còn cần phải tìm hiểu kỹ và trao đổi với các đồng nghiệp, nếu chúng ta có dịp gặp gỡ thưỡng xuyên trong những cuộc hội thảo khoa học như GS Hoàng Tuệ gợi ý. Viết về những bài học mà tôi tiếp thu được từ các qun điểm cũng như sự đóng góp cụ thể của GS Hoàng Tuệ vào lĩnh vực dạy tiếng Việt cho người không phải bản ngữ, người viết muốn biểu lộ sự kính mến và tấm lòng biết ơn của mình đối với một người Anh, một người Thầy đã có ảnh hưởng quyết định đối với người viết không chỉ trong khuynh hướng khoa học mà cartrong rất nhiều lĩnh vực về tư tưởng, về đạo đức và về phong cách ứng xử trong cuộc sống.

 

 

Chú thích

 

1. Xem Lý Toàn Thắng, Mô hình "ngây thơ" về thế giới và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài trong Tiếng Việt như một ngoại ngữ, tr 91 -93, Nxb GD 1995.

2. Xem Hoàng Tuệ, Vấn đề phương ngữ và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, trongTiếng Việt như một ngoại ngữ, tr83 - 85, Nxb GD, 1995.

3. Xem Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tr 320 - 321, Nxb ĐHQG HN, 1997.

4 Hoàng Tuệ, Tuyển tập Ngôn ngữ học, Nxb ĐHQG TPHCM, 2001.

5. Hoàng Tuệ, Vấn đề chuẩn ngôn ngữ qua lịch sử ngôn ngữ học, Nxb GD, 1993.

 

 

 

Nguồn: Tạp chí Ngôn ngữ số 6 năm 2003

 

Bạn hãy đăng nhập vào Facebook để thực hiện bình luận và chia sẻ bản tin này với bạn bè.

arrow